Hỏi đáp hôn nhân gia đình – Hợp đồng tiền hôn nhân

Nam nữ chuẩn bị kết hôn có nên lập văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng – Hợp đồng tiền hôn nhân

“Xin văn phòng cho em hỏi về vấn đề hợp đồng trước hôn nhân. Em sắp chuẩn bị kết hôn nhưng em vẫn chưa hiểu rõ về vấn đề phân chia tài sản. Giả sử như sau này em ly dị vậy tài sản trước khi cưới nhau có gộp chung với tài sản vợ chồng hay không? Nhờ văn phòng hướng dẫn dùm em. Xin cám ơn!”

Hop-dong-tien-hon-nhan

ASN trả lời:

Vấn đề bạn hỏi văn phòng công chứng Châu Á xin trả lời như sau:

Việc cho phép nam nữ trước khi kết hôn lập văn bản thỏa thuận có công chứng, chứng thực về chế độ tài sản vợ chồng là một trong những nội dung mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.

Vốn dĩ đề cao vấn đề tình cảm nên ở Việt Nam ta trước khi kết hôn người ta ngại đề cập chuyện phân chia tài sản, giải quyết tranh chấp về tài sản. Tuy nhiên, khi xã hội càng phát triển, đặc biệt, khi văn hóa phương tây du nhập vào ta thì người ta có vẻ nghĩ thoáng hơn về vấn đề rạch ròi tài sản trong hôn nhân.

Trước đây, cũng có một số trường hợp các đôi nam nữ (phần đa là kết hôn có yếu tố nước ngoài) đề nghị tư vấn, soạn thảo thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng sau khi kết hôn nhưng công chứng viên không thực hiện được vì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không có quy định về việc thỏa thuận chọn chế độ tài sản vợ chồng mà chỉ quy định chế độ tài sản vợ chồng theo luật định.

Hiện nay khi Luật Hôn nhân gia đình có hiệu lực, các tổ chức hành nghề công chứng được phép chứng nhận Văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng của những đôi nam nữ trước khi kết hôn. Tuy nhiên, thỏa thuận này không phải thích lập nội dung như thế nào cũng được mà gồm những nội dung chủ yếu như:

  • Chọn chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng;
  • Chọn chế độ tài sản vợ chồng không có tài sản riêng mà mọi tài sản của vợ chồng có trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung;
  • Chọn chế độ tài sản vợ chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản vợ, chồng có được là tài sản riêng thuộc quyền sở hữu của người tạo lập tài sản đó;
  • Quyền tạo lập tài sản riêng, tài sản chung; cách xác định tài sản riêng và tài sản chung, nghĩa vụ thông báo cho bên thứ 3 biết về thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng;
  • Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung, riêng của vợ chồng;
  • Nguyên tắc, cách thức phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân và khi ly hôn;
  • Nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với nhu cầu thiết yếu của gia đình,

Việc thỏa thuận phải tuân theo một số điều kiện như: không được vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, vi phạm sự bình đẳng vợ chồng, ảnh hưởng quyền lợi thành viên gia đình…… phải lập trước khi kết hôn và phải được công chứng, chứng thực.

Trong một số trường hợp khi tiếp xúc với những đôi nam nữ, mặc dù luật đã cho phép các bên lập văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng họ vẫn không tránh khỏi tâm lý e ngại, thường lấy lý do là do áp lực từ gia đình, do công việc nên phải lập văn bản thỏa thuận chế độ tài sản để đối phó. Cũng có quan điểm cho rằng cho phép thỏa thuận chọn chế độ tài sản vợ chồng sẽ làm nảy sinh các cuộc hôn nhân mang tính mua bán không phù hợp với truyền thống.

Thiết nghĩ, chế độ tài sản vợ chồng bao gồm: cách tạo lập tài sản chung, riêng của vợ chồng, các xác định tài sản chung, riêng; vấn đề phân chia tài sản, thỏa thuận giải quyết tranh chấp tài sản…. là những vấn đề khách quan không nên né tránh và thực tế trong các lý do dẫn đến ly hôn thì tranh chấp tài sản cũng là một lý do thường gặp nên việc thỏa thuận về chế độ tài sản là giúp hạn chế tranh chấp, góp phần giúp hôn nhân bền vững chứ không phải chỉ đơn thuần là thực dụng trong hôn nhân. Còn nếu rơi vào những cuộc hôn nhân vì lợi ích vật chất thì chí ít thoả thuận chế độ tài sản cũng giúp đôi bên rạch ròi ngay từ đầu, tránh được việc bị lợi dụng hay lừa dối.

Hiện nay, một số trường hợp yêu cầu công chưng văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng có yếu tố nước ngoài (vợ hoặc chồng có quốc tịch nước ngoài) trong đó có thỏa thuận về tài sản (gồm cả động sản và bất động sản) ở nước ngoài gây nhiều khó khăn, lúng túng cho công chứng viên về việc công chứng viên có được phép chứng nhận thỏa thuận liên qua bất động sản ở nước ngoài hay không; về vấn đề áp dụng luật. Đây là những vướn mắc cần hướng dẫn trong thời gian tới.

(Bài viết của trang Nghề công chứng)

 

Văn phòng công chứng Châu Á (ASN)

Mọi câu hỏi bạn có thể gửi đến Văn phòng công chứng Châu Á – Số 44 Võ Văn Tần, phường 6, quận 3, tp Hồ Chí Minh – điện thoại liên lạc: 08.39 300 903 – Email: info@congchungchaua.com.vn – Chúng tôi sẽ cố gắng trả lời câu hỏi của bạn trong thời gian sớm nhất

24 / 12 / 2015

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *